LỰA CHỌN SỬ DỤNG VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG AN TOÀN, HIỆU QUẢ

Vitamin và chất khoáng là những yếu tố cần thiết cho sức khỏe mỗi người, cũng giống như rau, quả, thịt, cá, ngũ cốc…đây là những hợp phần không thể thiếu được cho đời sống nhưng so với thực phẩm và ngũ cốc thì số lượng cần thiết rất nhỏ nên còn gọi là vi chất dinh dưỡng. Các vitamin và chất khoáng thường được bán như những thuốc không kê đơn dưới dạng đơn lẻ hoặc phối hợp, với các hàm lượng khác nhau đã gây không ít lúng túng cho người sử dụng. Cũng do được bán tự do tràn lan và tuyên truyền không chính xác về tác dụng nên trong thực tế đã tạo ra sự lạm dụng, gây những tai biến nghiêm trọng do thừa vi chất.

anh1

NHU CẦU HÀNG NGÀY VỀ VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG

THIẾU VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG

Nguyên nhân thiếu

Các vitamin và chất khoáng luôn có sẵn trong ngũ cốc và thục phẩm (gạo, mì, thịt, cá, trứng, sữa, rau, quả…), vì vậy đối với những người không có quá trình rối loạn hấp thu ở đường tiêu hóa (ỉa chảy, tắc mật, viêm tụy, loét dạ dày – tá tràng…) và không ăn kiêng, có chế độ ăn cân đối với thực phẩm đảm bảo chất lượng thì không bao giờ thiếu và không cần bổ sung.

Thiếu các chất này có thể do những nguyên nhân sau:

  • Do cung cấp thiếu:

+ Thức ăn kém phẩm chất làm mất lượng vitamin như gạo ẩm mốc, rau quả héo, úa hoặc bảo quản lạnh lâu ngày làm gảm lượng vitamin C.

+ Chế biến thức ăn không đúng cũng có thể làm giảm lượng vitamin mặc dù chất lượng thực phẩm ban đầu tốt.

+ Ăn kiêng.

  • Do rối loạn hấp thu:

+ Loét ống tiêu hóa, cắt dạ dày sẽ mất yếu tố nội để hấp thu vitamin B12

+ Người cao tuổi khả năn hấp thu các chất dinh dưỡng kém.

+ Người nghiện rượu sẽ thiếu vitamin B12, vitamin E, acid folic do giảm tổng hợp protein, xơ gan.

  • Do nhu cầu cơ thể tăng nhưng không cung cấp đủ như phụ nữ có thai, cho con bú, thiếu niên tuổi dậy thì hoặc bệnh nhân sau ốm dậy, sau mổ, nhiễm khuẩn kéo dài…
  • Các nguyên nhân gây thiếu đặc biệt khác:

+ Bệnh nhân được nuôi dưỡng nhân tạo hoàn toàn theo đường tiêm.

+ Bệnh nhân có khuyết tật di truyền: như còi xương do thiếu men 1-α-hydroxylase ở thận, bệnh thiếu hụt yếu tố nội để hấp thu vitamin B12.

+ Trẻ sơ sinh, đặc biệt là sơ sinh thiếu tháng hay thiếu vitamin K

+ Thiếu do tương tác thuốc.

XỬ TRÍ KHI THIẾU VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG

Phát hiện nguyên nhân gây thiếu và loại bỏ nó là việc phải làm đầu tiên.

Ví dụ: Nếu thiếu do rối loạn hấp thu thì phải điều trị các bệnh liên quan( ỉa chảy, suy gan, tắc mật…). thiếu do cung cấp không đủ cho nhu cầu thì phải tăng cường thêm khẩu phần ăn hoặc sử dụng thêm vitamin và chất khoáng khi thiếu trầm trọng…

Việc bổ sung vitamin và chất khoáng hợp lý nhất là phải lấy từ thực phẩm vì đó là nguồn cung cấp đầy đủ và cân đối nhất. Bổ sung dưới dạng thuốc chỉ khi thiếu trầm trọng hoặc trong những trường hợp chưa có điều kiện sử đổi lại chế độ ăn, ví dụ như bệnh nhân thiếu vitamin A, thiếu sắt ở bệnh nhân nghèo, những người mà hợp phần dinh dưỡng chủ yếu là ngũ cốc và rau.

Thường thì ít có hiện tượng thiếu đơn độc một chất trừ nguyên nhân thiếu do khuyết tật di truyền hoặc do tuong tác thuốc, vì vậy việc bổ sung vitamin dưới dạng hỗn hợp có hiệu quả hơn dùng các chất đơn lẻ. Tỷ lệ phối hợp của các công thức khác nhau nên khi lựa chọn phải căn cứ vào nguyên nhân gây thiếu để bổ sung cho phù hợp.

THỪA VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG

Nguyên nhân gây thừa

  • Thừa do chế độ ăn: nói chung, thừa vitamin do ăn uống ít gặp vì cơ thể có thể tự điều chỉnh trong quá trình hấp thu qua đường tiêu hóa. Một số ít trường hợp thừa vitamin cấp tính do ăn loại thức ăn có chứa lượng lớn vitamin tan trong dầu như gan cá thu, gan gấu trắng…
  • Thừa do lạm dụng vitamin và chất khoáng dưới dạng thuốc: đây là nguyên nhân hàng đầu hay gặp nhất, vì những người khỏe mạnh, không có rối loạn hấp thu và ăn với chế độ ăn đủ các chất thì không cần phải bổ sung thêm vitamin và chất khoáng dưới dạng thuốc. Nếu những đối tượng này thường xuyên uống vitamin, đặc biệt là vitamin tan trong dầu (A, D) thì dễ gặp các rối loạn do thừa vitamin. Ví dụ:

+ Phụ nữ có thai dùng kéo dài vitamin A > 5000IU/ngày trong khi vẫn ăn uống đầy đủ và hấp thu tốt sẽ có nguy cơ thừa vitamin A, gây quái thai.

+ Vitamin C dùng thường xuyên với liều cao cũng gây không ít tai biến: ỉa chảy, loét đường tiêu hóa, viêm đường tiết niệu, và đặc biệt là sỏi thận.

+ Các chế phẩm vitamin B (hỗn hợp 3B) liều cao gây thừa vitamin B6 với các biểu hiện rối loạn thần kinh cảm giác, thừa vitamin B12 với triệu chứng thừa coban (Co) gây tăng sản tuyến giáp, bệnh cơ tim và tăng hồng cầu quá mức.

+ Ngộ độc sắt ở trẻ em dưới 5 tuổi khá phổ biến do uống quá liều, hậu quả dẫn đến tử vong.

Các biện pháp chống thừa vitamin và chất khoáng

  • Đường đưa thuốc ưu tiên trong mọi trường hợp là đường uống vì tránh được nguy cơ thừa nhờ quá trình tự điều chỉnh khi hấp thu của ông tiêu hóa thông qua chất mang (carrier).đường tiêm chỉ dùng trong trường hợp cơ chế hấp thu qua ống tiêu hóa bị tổn thương (nôn nhiều, ỉa chảy…) hoặc khi cần bổ sung gấp vi chất, trong nuôi dưỡng nhân tạo ngoài đường tiêu hóa.
  • Khi dùng thuốc ở dạng hỗn hợp vitamin và chất khoáng phải phân biệt các công thức dành cho trẻ dưới 1 tuổi, cho trẻ dưới 4 tuổi và cho người lớn. Công thức dành cho người lớn thường được tính cho lứa tuổi từ 11 tuổi trở lên.

LỰA CHỌN CÁC CHẾ PHẨM

Các chế phẩm chứa vitamin

  • Các loại vitamin đơn lẻ:

Ưu điểm của loại này là giá rẻ và phù hợp với trường hợp chỉ thiếu một loại vitamin nào đó. Ví dụ: với các loại vitamin dễ hỏng do chế biến hoặc bảo quản thực phẩm như vitamin B1, B6, C; hoặc thiếu do khuyết tật di truyền gây thiếu vitamin D, vitamin B­12

Loại đơn lẻ còn phục vụ cho mục đích điều trị với tác dụng đặc hiệu có thể không liên quan đến công dụng của vitamin. Ví dụ: vitamin PP dưới dạng acid nicotinic liều cao để giảm lipid máu, vitamin B12 dưới dạng hydroxocobalamin dùng trong giải độc cyanua…

  • Các loại vitamin phối hợp:

anh 2

Có rất nhiều kiểu phối hợp, hàm lượng của mỗi chất trong công thức cũng khác nhau:              

Phối hợp nhiều loại vitamin

Phối hợp chỉ các loại vitamin tan tong dầu

Phối hợp chỉ các loại vitamin tan trong nước

 Mục đích phối hợp:

            + Đa phần là để bù vitamin khi thiếu trầm trọng

            + Tuy nhiên cũng có nhiều kiểu phối hợp hoàn toàn để điều trị với mục đích không liên quan đến tác dụng trên chuyển hóa. Ví dụ: hỗn hợp 3B (B1, B6, B12)hàm lượng cao còn dùng để giảm đau trong các trường hợp đau liên quan đế tổn thương dây thần kinh, hỗn hợp các vitamin có tác dụng chống gốc tự do (antioxydant) như A+E+C dùng với tác dụng chống lão hóa…

            + Các loại hàm lượng cao đặc biệt nguy hiểm khi dùng kéo dài  do khả năng tích lũy hoặc do tác dụng phụ.

Các chế phẩm chứa chất khoáng

Phần lớn các chất khoáng rất sẵn có trong thiên nhiên (nước uống, thức ăn) và vai trò sinh lý thường đi kèm với vitamin. Tuy nhiên, so với vitamin, phạm vi an toàn của chất khoáng, đặc biệt la nguyên tố vi lượng rất hẹp. Cũng vì lý do này các chế phẩm chất khoáng thường phối hợp với các vitamin.Điều đáng lưu ý là các chất khoáng khi dùng đơn độc có hàm lượng khá cao nên khi sử dụng phải rất thận trọng vì những nhầm lẫn dễ dẫn tới tai biến đáng tiếc, thậm chí có thể tử vong.

Các chế phẩm phối hợp vitamin với chất khoáng

anh 3

Các dạng chế phẩm phối hợp loại này thường được dùng trong các trường hợp thiếu do cung cấp không đủ: do thực phẩm không đảm bảo chất lượng hoặc cung cấp không đủ nhu cầu, do nuôi dưỡng nhân tạo ngoài đường tiêu hóa kéo dài…

Thành phần và hàm lượng các chế phẩm loại này cũng rất đa dạng, do đó việc lựa chọn phải căn cứ vào mục đích điều trị để tăng hiệu quả và tránh ngộ độc do quá liều.

Tất cả các nguyên tố vi lượng đều có phạm vi điều trị hẹp và sự thừa nguyên tố vi lượng rất dễ dẫn đến tử vong, do đó khi sử dụng cần lưu ý:

  • Chỉ chọn những công thức có chất khoáng khi thực sự có bằng chúng thiếu
  • Nếu dùng công thức hỗn hợp, chỉ nên chọn những công thức có hàm lượng chất khoáng thấp (<1 US.RDA)
  • Khi cần bổ sung những lượng chất khoáng lớn thì nên dùng dạng đơn độc để tránh thừa các vi chất khác. Ví dụ hay gặp nhất là bù iod hoặc sắt.
  • Kẽm (Zn) có trong những chế phẩm dùng điều trị các bệnh tổn thương da (viêm da, trứng cá…) nhờ tác dụng kích thích tổng hợp protein, tăng liền sẹo. không nên dùng kéo dài các chế phẩm dạng này vì dễ gây thừa kẽm, hậu quả không chỉ là các tác dụng phụ do Zn gây ra mà còn ảnh hưởng đến Cu và Fe: Zn ngăn cản sự hấp thu và sử dụng hai nguyên tố này, dẫn đến thiếu máu.

Vitamin và chất khoáng thực sự là con dao hai lưỡi. Mặt không thể phủ nhận được của nhóm chất này là góp phần rất dắc lực vào chuyển hóa các chất và phục hồi nhanh chóng các tổn thương do thiếu. Tuy nhiên do hoạt tính sinh học mạnh nhưng lại được sử dụng rất bừa bãi vì hầu hế là thuốc bán không cần đơn (OTC) nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến dời sống nhân dân. Vì vậy mỗi người nên trang bị cho mình những kiến thức thiết yếu để sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả.

Tg: DSĐH – Gv Phạm Trang